Sự phổ biến của kỹ thuật đo oxít nitơ (NO) trong khí thở

Gii thiu

Phương pháp định lượng nồng độ NO trong khí thở ra là một kỹ thuật thăm dò chức năng hô hấp được phổ biến trên thế giới từ nhiều năm qua. Báo cáo khoa học đầu tiên về ứng dụng kỹ thuật này trong bệnh hen đã được xuất bản vào năm 1993. Trong vòng 20 năm nay, đã có hơn 3000 bài báo khoa học về kỹ thuật đo FENO được đăng tải, trong đó gần 2000 bài báo có liên quan đến bệnh hen.

Ngày nay, NO đã được chính thức công nhận là một chất đánh dấu sinh học cho hiện tượng viêm do bạch cầu ái toan trong đường hô hấp. Kỹ thuật đo NO được sử dụng thường quy trên lâm sàng tại một số nước, điển hình là ở Mỹ nơi nó được FDA cho phép lưu hành. Kỹ thuật đã trở nên tiện dụng với thế hệ máy đo NO cá nhân và tương đối rẻ tiền, nên có thể được áp dụng cả trong bệnh viện, phòng khám tư nhân và thậm chí tại nhà bệnh nhân.

Trong bài này, chúng tôi sẽ trình bày một thống kê mô tả cắt ngang mà chúng tôi thực hiện hồi cuối năm 2012, cho thấy sự phổ biến của kỹ thuật đo NO trong thời gian 2 năm gần đây (2011-2012). Chúng tôi đã tổng kết số lượng báo cáo khoa học trên trang Pubmed trong thời gian này, tất cả những bài báo có liên quan đến kỹ thuật đo NO trong khí thở.

Mc đ ph biến

Có khoảng 420 bài báo khoa học đã được xuất bản trên thế giới trong thời gian 2 năm, tốc độ xuất bản là 21 bài báo mỗi tháng. Những bài báo này có xuất xứ từ 83 quốc gia. Nếu chia theo khu vực, châu Âu là nơi đóng góp nhiều nhất với 230 bài (55% tổng số), sau đó là Bắc Mỹ với gần 100 bài. Đáng chú ý là sự phổ biến của nghiên cứu về NO trong khí thở ở Châu Á có khuynh hướng tăng nhanh, với gần 50 bài báo, trong đó 3 nước dẫn đầu là Nhật bản (28 bài), Trung quốc (12 bài) và Hàn quốc (10 bài).

Điều đáng ghi nhận tiếp theo là một số nước mới bắt đầu quan tâm đến kỹ thuật đó NO, và đóng góp đáng kể trong việc nghiên cứu như Ba lan, Ý, Hy lạp, Đài loan, Thổ nhĩ kỳ… Kỹ thuật đo NO cũng đã xuất hiện tại 1 số quốc gia đang phát triển ở Nam mỹ và Phi Châu.

Nước đóng góp nhiều nhất gồm có : Hoa kỳ (khoảng 80 bài), Thụy điển (28), Nhật (28), Ý (28), Anh quốc (27).

Lĩnh vc nghiên cu

Xét về lĩnh vực nghiên cứu, ta thấy  các đặc điểm như sau :

Kỹ thuật được nghiên cứu nhiều nhất là đo FENO đơn giản với lưu lượng chuẩn 50 ml/s. Kỹ thuật này chiếm tới gần 94% số nghiên cứu. Kỹ thuật đo NO đa lưu lượng và phân tích NO theo cấu trúc giải phẩu đường dẫn khí chỉ chiếm 5%, nhưng đây vẫn còn là một lĩnh vực nhiều tiềm năng để khai thác, vì trong những năm sau này người ta bắt đầu quan tâm đến vai trò của đường dẫn khí nhỏ trong bệnh lý hô hấp. Hiện nay phương pháp đo NO đa thành phần chỉ sử dụng tại 1 số nước như Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Đức và Trung quốc.

Bệnh lý được quan tâm nhiều nhất là bệnh hen phế quản (46 % tổng số nghiên cứu) đây cũng là lĩnh vực mà NO có ứng dụng rõ ràng nhất đã được công nhận. Hiện nay NO trong khí thở được dùng để : định hướng chẩn đoán, đánh giá đáp ứng điều trị và theo dõi mức độ kiểm soát bệnh hen. Ngoài hen phế quản, các bệnh lý viêm đường hô hấp do dị ứng khác cũng được chú ý (19% tổng số nghiên cứu ). Trong năm 2011, có khuynh hướng rõ rệt về việc lặp lại những nghiêu cứu về FENO trên bệnh hen ở các nước Châu Á và các nước đang phát triển. Đây là bản sao của các thiết kế nghiên cứu từng được tiến hành trong thập niên 90 tại Mỹ và Châu Âu. Theo ý kiến cá nhân, chúng tôi cho rằng sự sao chép và lặp lại này là cần thiết và có một ý nghĩa nhất định về mặt khoa học, vì các bệnh lý hô hấp chịu sư tác động lớn của môi trường, khí hậu và điều kiện sống ; những yếu tố này tại các nước nhiệt đới châu Á, Phi hoàn toàn khác so với tại châu Âu và Mỹ. Hiện nay những ngưỡng giá trị lý thuyết của FENO được thiết lập hoàn toàn cho chủng tộc người Da trắng và tại các nước phát triển, ôn đới. Giá trị này có thể thay đổi theo chủng tộc và môi trường, như một số nghiên cứu ở Trung quốc, Hong Kong,  Đài loan và Việt Nam đã cho thấy.

Ngoài bệnh hen, chúng ta còn thấy FENO được ứng dụng trong nhiều bệnh lý hô hấp khác, như BPTNMT (COPD, 3% số nghiên cứu), bệnh lý giấc ngủ (1,7%), tăng áp động mạch phổi (1,2%), và các bệnh nhiễm trùng hô hấp (1,4%). Còn lại là những bệnh lý hiếm gặp như xơ phổi (có liên quan đến hiện tượng viêm phế nang, đánh giá bởi CANO).

Không chỉ được ứng dụng trong lâm sàng, NO trong khí thở còn là một công cụ khảo sát trong nghiên cứu y khoa cơ bản, tức là những mô hình thực nghiệm trên thú vật trong phòng thí nghiệm. NO trong khí thở được xem như 1 trong những thông số cần khảo sát để chứng minh về sự có mặt và vai trò của chất NO trong các mô hình sinh lý bệnh. Các nghiên cứu y khoa cơ bản này chiếm 6,3% tổng số bài báo về FENO.

Tóm lại, kỹ thuật đo NO trong khí thở có thể được ứng dụng trong 5 lĩnh vực chính sau đây, xếp theo thứ tự phổ biến :

Hen phế quản, Dị ứng, Sinh học cơ bản, Bệnh lý hô hấp có liên quan đến ô nhiễm không khí, COPD.

Nghiên cứu về NO trong khí thở chủ yếu thực hiện trên người lớn (66,3%) do kỹ thuật đo đòi hỏi một mức độ hợp tác nhất định ở bệnh nhân.Tuy nhiên Nhi khoa là một lĩnh vực có nhiều  tiềm năng. Hầu hết nghiên cứu về FENO tại Á châu đều nhắm đến đối tượng là trẻ em và thanh thiếu niên.

Cuối cùng, cần nhấn mạnh một điểm là hiện nay NO đã được chính thức công nhận là một biomarker của hiện tượng viêm đường dẫn khí, do đó thông số này bắt đầu xuất hiện trong các nghiên cứu về hiệu quả lâm sàng của các loại thuốc điều trị hen. Những thử nghiệm lâm sàng này dùng FENO như một cách để đánh giá hiệu quả điều trị, hay mức độ cải thiện triệu chứng viêm ở bệnh nhân. Trước kia, hiệu quả điều trị chủ yếu được đánh giá bằng triệu chứng lâm sàng và các thông số về chức năng thông khí. Thuật ngữ Inflammometry bắt đầu được đề cập trong nhiều nghiên cứu.

S đa dng v thiết b đo

Các thiết bị đo NO hiện nay có thể được xếp vào 3 nhóm chính : 1) Các thiết bị sử dụng công nghệ điện hóa học, 2) Các thiết bị sử dụng công nghệ quang hóa học, và 3) Các thiết bị sử dụng kỹ thuật sắc ký laser.

Nhóm 1 được xem là phổ biến nhất, với các thương hiệu như Niox Mino của Aerocrine, NObreath của Bedfont, Hypair FENO của Medisoft. Công nghệ điện hóa học có ưu điểm về giá thành và kích thước, cho phép tạo ra những máy đo NO kích thước nhỏ và rẻ tiền. Tuy nhiên mức độ chính xác của kỹ thuật này chỉ ở mức chấp nhận được.

Nhóm 2, quang hóa học ;  từng là kỹ thuật tiêu chuẩn, tuy nhiên ngày nay nó dần dần bị thay thế bởi nhóm 1. Các máy đo nhóm 2 có kích thước tương đối lớn, điều kiện vận hành phức tạp và giá thành rất cao, do đó chúng chỉ được sử dụng giới hạn trong các phòng thí nghiệm. Lợi thế của nhóm 2 là tính chính xác rất cao và thời gian đáp ứng nhanh. Các loại máy đo còn được lưu hành là : NOA 280i của Sievers, CLD 88 của Ecomedic

Nhóm 3 được xem như kỹ thuật đo NO thế hệ thứ 3, chỉ mới được nghiên cứu trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây. Hiện nay chỉ có một số nguyên mẫu đang được chế tạo trong các phòng thí nghiệm tại Hoa kỳ, chưa có sản phẩm bán ra thị trường. Phương pháp sắc ký hấp thụ bằng laser là công nghệ có nhiều ưu điểm, do nó có độ chính xác rất cao (< 1 ppb), cho phép khảo sát đồng thời từ 2-3 loại khí (NO, CO, CO2…) với giá thành thấp hơn kỹ thuật quang hóa học.

null

Máy đo FENO đa lưu lượng, sửdụng công nghệ quang hóa học của Ecomedic

null

Máy đo FENO đa lưu lượng sửdụng công nghệ điện hóa học của Medisoft

null

Máy đo FENO phòng thí nghiệm sử dụng công nghệ quang hóa học của Siever (General electric)

null

Máy đo FENO cầm tay sửdụng công nghệ điện hóa học của Aerocrine

null

Máy FENO bỏ túi sửdụng công nghệ điện hóa học của Bedfont

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: