80% trên giá trị lý thuyết là một khái niệm hoàn toàn sai lầm.

Nhằm hỗ trợ cho các anh chị, bạn bè thuộc chuyên khoa hô hấp trong việc sử dụng hiệu quả thông số thăm dò chức năng hô hấp trong hoạt động khám, chữa bệnh, bài viết này muốn cảnh báo về sự lầm lẫn rất phổ biến của các bác sĩ hiện nay khi diễn giải kết quả thăm dò chức năng hô hấp, đó là việc so sánh giá trị đo được của bệnh nhân với ngưỡng 80% của giá trị lý thuyết. Đây là một cách làm hoàn toàn sai, nhưng lại hết sức phổ biến, thậm chí được dạy cho sinh viên trong sách vở. Chúng tôi sẽ giải thích vì sao nó sai.

Hiện nay, phần lớn bác sĩ hô hấp đọc kết quả thăm dò chức năng, ví dụ phế dung ký, hô hấp ký theo cách như sau : Họ nhìn vào cột % giá trị lý thuyết (% predicted), nếu con số trên 80%, họ kết luận là kết quả bình thường, nếu con số này thấp hơn 80%, ví dụ 75%,  họ kết luận là bệnh lý, ví dụ FEV1/CVF thấp có nghĩa là hội chứng tắc nghẽn.

Cách đọc kết quả này rất phổ biến, được ưa chuộng, vì nó quá đơn giản, điều đáng tiếc rằng đó là 1 cách làm hoàn toàn sai. Chúng ta đã làm sai một cách vô thức trong hàng chục năm qua.

Để giải thích tại sao % giá trị lý thuyết không thể là tiêu chí so sánh, trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu xem giá trị lý thuyết đã được tìm ra như thế nào ?

Lấy ví dụ cho Dung tích phổi, đầu tiên ta thấy thông số này phụ thuộc vào 1 số đặc điểm của cơ thể như : chiều cao, tuổi, giới tính, và chủng tộc. Người có chiều cao lớn hơn thì phổi của họ cũng lớn hơn theo tỉ lệ. Kích thước của phổi cũng tăng dần trong thời gian trưởng thành từ 1 đứa bé cho đến tuổi trung niên, sau đó lại bị giảm đi khi về già, mặc dù không do bệnh lý. Nam giới có kích thước phổi lớn hơn nữ giới, người da trắng có tỉ lệ lồng ngực lớn hơn người châu á…

Để xác định giá trị bình thường dự đoán (hay lý thuyết), trước tiên, các nhà khoa học sẽ chọn ra 1 tập hợp với số lượng rất lớn (từ vài trăm cho đến vài chục ngàn) người không có bệnh hô hấp, và thuần nhất về chủng tộc. Họ sẽ khảo sát thông số Y, ví dụ dung tích sống gắng sức : FVC trên những người này, đồng thời ghi lại Tuổi, giới tính, chiều cao của từng cá thể.

Bước tiếp theo, các nhà khoa học sẽ phân tích thống kê theo phương pháp hồi qui (tuyến tính ) đa biến để dựng nên 1 mô hình dự đoán (phương trình ) có dạng : Y = A.  Chiều Cao + B. Tuổi + C. Giới tính…

Hay y = a.x1 + b.x2 +c.x3 +…..

Dựa vào mô hình này, chúng ta có thể tính ra giá trị dự đoán Y cho một bệnh nhân bất kì, nếu biết chiều cao, giới tính, tuổi của người đó.

Như vậy phần trăm trên giá trị lý thuyết chính là tỉ lệ giữa :( Y đo được / Y dự đoán)

Và đa số bác sĩ qui ước với nhau rằng nếu tỉ lệ này từ 80% trở lên, có nghĩa là giá trị bình thường.

Cách làm này đã mắc 2 sai lầm như sau :

Thứ nhất: Bỏ qua không xét tới chủng tộc của quần thể gốc : Mỗi mô hình dự đoán chỉ đúng với 1 quần thể chủng tộc nhất định. Không có lý do gì chúng ta lại áp dụng công thức của người châu Âu da trắng để chẩn đoán bệnh cho người Việt Nam. Và đa số những máy móc thiết bị hiện nay tại Việt Nam lại hào phóng tính luôn ra giá trị % lý thuyết cho các bác sĩ, và chúng ta hồn nhiên sử dụng chúng mà không xét đến vấn đề khác biệt chủng tộc.

Thứ hai: Ngay cả khi cùng 1 chủng tộc, cùng 1 giới tính, giá trị dự báo vẫn còn bị ảnh hưởng của tuổi, và ảnh hưởng này ít người thấy được.

Trong những mô hình dự đoán, thông thường không có sự phân bố đồng đều các nhóm tuổi. Những cá thể được khảo sát chỉ mới đảm bảo rằng họ không mắc bệnh, nhưng không có gì đảm bảo rằng họ không già, phổi họ không bị suy giảm chức năng theo sinh lý bình thường do tuổi tác. Sự pha trộn giữa thanh niên, người già, người rất già với nhau, sẽ cho ra 1 giá trị Y dự báo mang ý nghĩa bình quân.

Khi người bác sĩ mang mô hình dự báo có tính trung bình này ứng dụng cho một bệnh nhân già yếu, điều gì sẽ xảy ra ? Giá trị Y dự báo cho bệnh nhân già yếu này sẽ cao hơn (bị lệch so với giá trị dự báo thực sự ở độ tuổi của ông (bà) ta.

Như vậy dù ông (bà) ta không bệnh, giá trị đo được vẫn có nhiều khả năng thấp hơn (nhiều lúc <80%) giá trị dự báo theo lý thuyết, như vậy chúng ta chẩn đoán có bệnh và điều trị một cách vô ích.

Ngược lại, trên 1 đứa trẻ thực sự có bệnh, chúng ta áp dụng giá trị dự báo trung bình trên, sẽ có khả năng là giá trị đo được đúng bằng 80% hay cao hơn giá trị dự báo, và chúng ta bỏ lọt chẩn đoán.

Ví dụ cụ thể :

Một ông già 70 tuổi hoàn toàn khỏe mạnh, có giá trị dự đoán của FEV1 là 2,91 L, như vậy 80% sẽ là 2,33 L, giá trị FEV1 đo được là 2,25 L. Như vậy bác sĩ sẽ thấy là 2,25 L < 2,33 L (80%), và phán rằng ông ta bị hội chứng tắc nghẽn, trong khi ông ta hoàn toàn không có bệnh.

Ngược lại ; một thanh niên 25 tuổi bị bệnh hen, có giá trị dự đoán là 5,05 L, 80% của giá trị này là 4,04 L. Ta đo được FEV1 = 4,04, đúng bằng 80%. Chúng ta liệu có thể nói người này bình thường không ?

Kết luận:  sử dụng ngưỡng 80% giá trị lý thuyết sẽ dẫn tới nguy cơ bỏ sót chẩn đoán ở người rất trẻ, và áp đặt chẩn đoán ở người rất già.

One comment

  1. Trong bài sắp tới, chúng tôi sẽ giới thiệu cách diễn giải kết quả đúng, đó là sử dụng Ngưỡng dưới của giá trị bình thường (Lower limit of normal: LLN). Đây là phương pháp được khuyến cáo bởi những tổ chức có uy tín về hô hấp (ATS, ERS, GOLD)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: